[Ngày: 29.11.2017] Bản để in Gửi tin qua email
Gian lận, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN có thể bị phạt tù
Xem hình

Có thể thấy, những năm gần đây, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT có chiều hướng gia tăng và phức tạp. Tình trạng trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN xảy ra ở hầu hết các địa phương ngày càng nhiều và phổ biến nhất vẫn ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT rất đa dạng, hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT gồm: Hành vi của người sử dụng lao động không tham gia BHXH, BHYT cho người lao động, hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH cho người lao động nhưng không nộp tiền cho cơ quan BHXH đúng thời hạn mặc dù họ đã khấu trừ tiền đóng BHXH từ tiền lương của người lao động và hành vi của người sử dụng lao động không đóng BHXH đúng tiền lương, tiền công theo quy định cho người lao động.

Hành vi vi phạm quyền thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT gồm: hành vi gian lận BHXH, tổ chức gian lận BHXH và các hành vi tạo điều kiện cho người khác gian lận BHXH. Những hành vi gian lận này, trước hết gây thiệt hại cho quỹ BHXH và qua đó gián tiếp gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của người lao động tham gia BHXH.

Ngoài ra, còn có các hành vi gián tiếp tạo cơ hội để người khác lạm dụng như: Tiếp tay cho cơ sở khám chữa bệnh là sai để hưởng lợi cá nhân; thông đồng với cơ sở KCB để trục lợi.

Ảnh minh họa

Người lao động không được tham gia BHXH, BHTN, BHYT hoặc tham gia không đầy đủ, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT như quyền hưởng BHXH, BHYT khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quyền hưởng chế độ BHTN; quyền được lĩnh lương hưu khi hết tuổi lao động.

Tuy nhiên, việc xử lý những hành vi vi phạm về BHXH, BHYT còn hạn chế, chế tài xử phạt nhẹ, không đủ sức răn đe, do đó việc đặt ra vấn đề hình sự hoá một số hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT là hết sức cần thiết.

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Hình sự 2015 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 20/6/2017 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018; trong đó có quy định xử lý hình sự với tội gian lận BHXH, BHTN, tội gian lận BHYT, tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động tại Điều 214, 215, 216. Bộ Luật hình sự có hiệu lực sẽ nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật BHXH, BHYT của người sử dụng lao động, qua đó đảm bảo nguồn thu của Quỹ BHXH, BHYT. Việc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản BHXH, BHYT là cơ sở thực hiện việc chi trả đầy đủ các quyền lợi về BHXH, BHYT cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm đời sống của người lao động và có tác dụng tích cực đến sự ổn định xã hội và phát triển bền vững, hạn chế tối đa sự bất bình đẳng giữa các đơn vị tuân thủ và đơn vị không tuân thủ pháp luật BHXH, BHYT.

Trích

BỘ LUẬT HÌNH SỰ QUY ĐỊNH

CÁC TỘI DANH GIAN LẬN, TRỐN ĐÓNG BHXH, BHYT, BHTN

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;

b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 215. Tội gian lận bảo hiểm y tế

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống hoặc kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, chi phí giường bệnh và các chi phí khác mà thực tế người bệnh không sử dụng;

b) Giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được cấp khống, thẻ bảo hiểm y tế giả, thẻ đã bị thu hồi, thẻ bị sửa chữa, thẻ bảo hiểm y tế của người khác trong khám chữa bệnh hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;

d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;

c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng./.

Trần Thanh
[vũ xuân hùng Email: nasanhung@gmail.com 3.11.2017 9:58]
[Lê Nhật Minh Email: nhatminh1908@gmail.com 24.10.2017 17:15]
[Hoàng thị huệ Email: Hoanghuesl88@gmail.com 11.9.2017 14:11]
[Lê Xuân Định Email: dinhxuanle@gmail.com 1.9.2017 12:03]
[Nguyễn Văn Tâm Email: chetomua@gmail.com 15.8.2017 19:04]
[Vi Thị Huyền Email: vithanhhuyen077@gmail.com 8.5.2017 17:27]
Đơn vị tôi là Bệnh viện y học cổ truyền sơn la có làm thủ tục thanh toán cho một trường hợp như sau:
Bà Nguyễn Thị Quỳnh là viên chức của đơn vị thanh toán chế độ ốm đau -Bản thân ốm thường, cụ thể như sau:
ốm đau từ ngày 07/3/2017 đến ngày 16/3/2017 - Thời gian 8 ngày không kể các ngày nghỉ theo qui định (có giấy ra viện)
ốm đau từ ngày 20/3/2017 đến ngày 02/5/2017 - Thời gian 29 ngày không kể các ngày nghỉ theo qui định (có giấy ra viện)
Tổng số ngày nghỉ ốm của bà Quỳnh theo ngày trên giấy ra viện là 37 ngày (tháng 3 nghỉ 18 ngày + tháng 4 nghỉ 19 ngày)
Bà Quỳnh nghỉ thực tế và cơ quan chấm công cũng khớp đúng với số ngày trên giấy ra viện
Bà quỳnh tham gia đóng BHXH từ tháng 7/2013 - Theo luật BHXH thì được nghỉ chế độ ốm đau tối đa 30 ngày/năm
Tôi xin hỏi:
Cơ quan chấm công cho bà Quỳnh nghỉ ốm 37 ngày ( theo giấy ra viện và thực nghỉ) có đúng không?
Nếu chỉ được thanh toán chế độ BHXH ốm đau 30 ngày thì có 7 ngày bà quỳnh nghỉ ốm mà không được hưởng BHXH đơn vị có được cắt không thanh toán tiền lương không? Nếu cắt thì cắt từ ngày nào đến ngày nào?
Nếu cơ quan đề nghị thanh toán chế độ ốm đau cho bà quỳnh đủ 30 ngày theo Luật BHXH với chi tiết sau: tháng 3 thanh toán 18 ngày + tháng 4 thanh toán 12 ngày thì làm thủ tục báo giảm đóng BHXH (đối với nghỉ ốm trên 14 ngày/tháng) 1 tháng (tháng 3) hay là 2 tháng (tháng 3+ tháng 4) vì tháng 4 nghỉ 19 ngày nhưng thanh toán 12 ngày - theo luật BHXH nghỉ trên 14 ngày mới báo giảm đóng BHXH
[nguyễn Thanh Email: nguyenthanh0484@gmail.com 8.5.2017 16:53]
[Trần Thị Hậu  Email: thang3hoathuytien@gmail.com 25.4.2017 15:42]
[Nguyễn Hồng Hạnh Email: hanh.bigc.1989@gmail.com 3.4.2017 12:17]
Kính gửi BHXH Sơn La!
Hiện tại tôi đang công tác tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Mộc Châu dưới hình thức kí kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn; trình độ đại học, hệ số lương 2.34.
Ngày kí kết hợp đồng là 14/3/2014. Trong hợp đồng không ghi thời gian thử việc hay tập sự. Tôi xin hỏi đến 14/3/2017 này là tròn 3 năm tôi công tác tại ban vậy tôi có được nâng bậc lương đầu tiên ko? Hợp đồng không xác định thời hạn như tôi có phải mất 1 năm tập sự như công chức, viên chức ko? (Cơ quan tôi là đơn vị sự nghiệp chỉ kí kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động, trừ thủ trưởng đơn vị là công chức ra thì không có người lao động nào là công chức, viên chức) trong thời gian công tác tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ và không vi phạm hay bị xử lý, kỷ luật.
Mong sớm nhận được phản hồi của quý cơ quan để tôi được kịp thời nắm bắt!
Xin cảm ơn!
[Vũ Thị Mến Email: minhluyenth1@gmail.com 21.3.2017 21:43]